| Thế giới đang rơi vào tình trạng “Phá sản về nước”, các nhà khoa học của Liên Hợp Quốc báo cáo – điều đó có nghĩa là gì |
| Cập nhật lúc : 1/22/2026 2:19:49 PM |
Thế giới hiện đang sử dụng quá nhiều nước ngọt trong bối cảnh chịu các tác động của biến đổi khí hậu, đến mức đã bước vào kỷ nguyên “phá sản về nước”. Nhiều khu vực không còn khả năng phục hồi sau các đợt thiếu nước xảy ra ngày càng thường xuyên.
Khoảng 4 tỷ người - gần một nửa dân số toàn cầu không có đủ nước để đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt &ndash phải sống trong tình trạng khan hiếm nước nghiêm trọng ít nhất một tháng mỗi năm. Nhiều người khác cũng đang trực tiếp chứng kiến hậu quả của tình trạng thiếu hụt nước: các hồ chứa cạn khô, các thành phố bị sụt lún, mùa màng thất bát, phân phối nước theo hạn mức, cùng với cháy rừng và bão bụi xảy ra thường xuyên hơn ở những khu vực đang khô hạn.
Dấu hiệu của “phá sản nước” xuất hiện ở khắp nơi, từ Tehran, nơi hạn hán và việc sử dụng nước không bền vững đã làm cạn kiệt các hồ chứa mà thủ đô Iran phụ thuộc, qua đó làm gia tăng căng thẳng chính trị, cho đến Hoa Kỳ, nơi nhu cầu sử dụng nước đã vượt quá nguồn cung của sông Colorado &ndash một nguồn nước sống còn cho sinh hoạt và tưới tiêu của bảy bang.

Hạn hán đã khiến việc tìm kiếm nước cho gia súc trở nên khó khăn hơn và dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng lan rộng ở một số khu vực của Ethiopia trong những năm gần đây. Năm 2022, UNICEF ước tính rằng có tới 600.000 trẻ em sẽ cần được điều trị vì suy dinh dưỡng nghiêm trọng.
Demissew Bizuwerk / UNICEF Ethiopia, CC BY
“Phá sản về nước” không chỉ là một phép ẩn dụ cho tình trạng thiếu nước. Đây là một tình trạng mang tính mãn tính, hình thành khi một khu vực sử dụng nhiều nước hơn mức mà tự nhiên có thể bổ sung một cách ổn định, đồng thời khi tổn hại đối với các tài sản tự nhiên có chức năng lưu trữ và lọc nước &mdash như tầng chứa nước ngầm và các vùng đất ngập nước - trở nên khó có thể đảo ngược.
Một nghiên cứu mới do tôi chủ trì, phối hợp với Viện Nước, Môi trường và Sức khỏe thuộc Đại học Liên Hợp Quốc, kết luận rằng thế giới hiện đã vượt qua giai đoạn khủng hoảng nước mang tính tạm thời. Nhiều hệ thống nước tự nhiên không còn khả năng trở lại trạng thái lịch sử ban đầu. Các hệ thống này đang ở trong tình trạng suy sụp - hay “phá sản về nước”.
Phá sản về nước được hiểu như thế nào trong đời sống thực
Trong phá sản tài chính, những dấu hiệu cảnh báo ban đầu thường có vẻ vẫn còn xoay xở được: trả nợ trễ, vay mượn tiền bạc và phải bán đi những tài sản mà bạn từng hy vọng giữ lại. Sau đó, vòng xoáy suy sụp ngày càng siết chặt.
Phá sản về nước cũng diễn ra theo những giai đoạn tương tự.
Ban đầu, chúng ta khai thác thêm một chút nước ngầm trong những năm khô hạn. Chúng ta dùng máy bơm lớn hơn, khoan giếng sâu hơn. Chúng ta chuyển nước từ lưu vực này sang lưu vực khác. Chúng ta lấp và làm cạn các vùng đất ngập nước, nắn thẳng sông ngòi để nhường chỗ cho nông trại và các thành phố.
Sau đó, những chi phí tiềm ẩn bắt đầu lộ rõ. Các hồ nước thu hẹp dần qua từng năm. Giếng nước buộc phải đào sâu hơn. Những con sông từng chảy quanh năm trở nên chảy theo mùa. Nước mặn dần xâm nhập vào các tầng chứa nước ngầm ven biển. Chính mặt đất cũng bắt đầu sụt lún.

Cách Biển Aral thu hẹp từ năm 2000 đến năm 2011. Trước đây, Biển Aral có hình dạng gần như hình bầu dục, từng bao phủ cả những vùng màu sáng này cho đến tận những năm 1980. Tuy nhiên, việc khai thác nước quá mức cho nông nghiệp của nhiều quốc gia đã khiến mực nước biển suy giảm nghiêm trọng.
Nguồn: NASA
Hiện tượng cuối cùng - sụt lún mặt đất &mdash thường khiến nhiều người ngạc nhiên. Nhưng đây chính là dấu hiệu đặc trưng của tình trạng phá sản về nước. Khi nước ngầm bị khai thác quá mức, cấu trúc dưới lòng đất - vốn giữ nước gần giống như một miếng bọt biển - có thể bị sụp đổ. Tại Thành phố Mexico, mặt đất đang lún xuống khoảng 10 inch (25 cm) mỗi năm. Một khi các lỗ rỗng trong lòng đất bị nén chặt, chúng không thể đơn giản được bơm đầy trở lại.
Báo cáo “Phá sản Nước Toàn cầu”, công bố ngày 20 tháng 1 năm 2026, ghi nhận mức độ lan rộng đáng báo động của hiện tượng này. Việc khai thác nước ngầm đã góp phần gây ra sụt lún đất nghiêm trọng trên hơn 2,3 triệu dặm vuông (6 triệu km²), bao gồm cả các khu đô thị nơi gần 2 tỷ người đang sinh sống. Jakarta, Bangkok và TP. Hồ Chí Minh là những ví dụ điển hình tại châu Á.

Một hố sụt tại vùng nông nghiệp trọng điểm của Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy cảnh quan có thể sụp đổ như thế nào khi lượng nước ngầm bị khai thác vượt quá khả năng tự bổ sung của tự nhiên.
Ekrem07, 2023, Wikimedia Commons, CC BY
Nông nghiệp là lĩnh vực sử dụng nước lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 70% tổng lượng khai thác nước ngọt toàn cầu. Khi một khu vực rơi vào tình trạng phá sản về nước, hoạt động canh tác trở nên khó khăn hơn và tốn kém hơn. Nông dân mất việc làm, căng thẳng xã hội gia tăng và an ninh quốc gia có thể bị đe dọa.
Khoảng 3 tỷ người và hơn một nửa sản lượng lương thực toàn cầu đang tập trung tại những khu vực mà khả năng trữ nước đã suy giảm hoặc không ổn định. Hơn 650.000 dặm vuông (1,7 triệu km²) đất nông nghiệp được tưới tiêu đang phải đối mặt với căng thẳng nước ở mức cao hoặc rất cao. Điều này đe dọa sự ổn định của nguồn cung lương thực trên toàn thế giới.

Tại California, hạn hán nghiêm trọng và tình trạng thiếu nước đã buộc một số nông dân vào năm 2021 phải chặt bỏ những loại cây trồng cần lượng nước tưới lớn, trong đó có cây hạnh nhân.
Robyn Beck / AFP qua Getty Images
Hạn hán cũng đang kéo dài về thời gian, tần suất và mức độ nghiêm trọng khi nhiệt độ toàn cầu tăng lên. Trong giai đoạn từ 2022 đến 2023, hơn 1,8 tỷ người - gần 1/4 dân số thế giới - đã phải đối mặt với điều kiện hạn hán vào những thời điểm khác nhau.
Những con số này chuyển hóa thành các vấn đề rất thực tế: giá lương thực tăng cao, thiếu hụt điện thủy điện, rủi ro về sức khỏe, thất nghiệp, áp lực di cư, bất ổn xã hội và xung đột.
Chúng ta đã đi đến tình trạng này như thế nào?
Mỗi năm, tự nhiên “cấp” cho mỗi khu vực một khoản thu nhập về nước, thông qua mưa và tuyết rơi. Hãy hình dung điều này giống như một tài khoản thanh toán - đó là lượng nước chúng ta nhận được hằng năm để sử dụng và chia sẻ với tự nhiên.
Khi nhu cầu tăng lên, chúng ta bắt đầu vay mượn từ “tài khoản tiết kiệm”. Chúng ta khai thác nhiều nước ngầm hơn mức có thể được bổ sung, chiếm dụng phần nước mà tự nhiên cần, và làm cạn các vùng đất ngập nước trong quá trình đó. Cách làm này có thể tạm thời hiệu quả, giống như nợ nần có thể tài trợ cho một lối sống chi tiêu hoang phí trong một thời gian ngắn.

Bờ hồ lộ ra tại đập Latyan cho thấy mực nước xuống rất thấp gần Tehran vào ngày 10 tháng 11 năm 2025. Hồ chứa này, vốn cung cấp một phần nước uống cho thủ đô, đã suy giảm mạnh do hạn hán kéo dài và nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng trong khu vực.
Bahram / Middle East Images / AFP qua Getty Images
Những nguồn nước dài hạn đó hiện đang dần biến mất. Trong vòng năm thập kỷ, thế giới đã mất hơn 1,5 triệu dặm vuông (4,1 triệu km²) các vùng đất ngập nước tự nhiên. Đất ngập nước không chỉ có chức năng giữ nước, mà còn lọc sạch nước, giảm nhẹ lũ lụt, và nuôi dưỡng hệ thực vật cũng như động vật hoang dã.
Chất lượng nước cũng đang suy giảm. Ô nhiễm, xâm nhập mặn và nhiễm mặn đất có thể khiến nước quá bẩn và quá mặn để có thể sử dụng, từ đó góp phần đẩy nhanh tình trạng phá sản về nước.

Chỉ số rủi ro nước tổng hợp phản ánh giá trị tổng hợp của lượng nước, chất lượng nước, cùng với các rủi ro về quy định pháp lý và uy tín liên quan đến nguồn cung nước. Giá trị càng cao thì rủi ro liên quan đến nước càng lớn.
Viện Nước, Môi trường và Sức khỏe &ndash Đại học Liên Hợp Quốc, dựa trên Aqueduct 4.0, CC BY
 
Biến đổi khí hậu đang làm trầm trọng thêm tình trạng này do giảm lượng mưa ở nhiều khu vực trên thế giới. Nhiệt độ tăng khiến cây trồng cần nhiều nước hơn và nhu cầu điện năng để bơm nước cũng tăng lên. Đồng thời, hiện tượng ấm lên còn làm tan chảy các sông băng - những “kho chứa” nước ngọt tự nhiên.
Bất chấp những vấn đề này, các quốc gia vẫn tiếp tục gia tăng việc khai thác nước để phục vụ cho sự mở rộng của các thành phố, đất nông nghiệp, các ngành công nghiệp, và hiện nay là các trung tâm dữ liệu.
Lượng khai thác nước ngọt toàn cầu đã gia tăng
Lượng nước được sử dụng cho nông nghiệp, công nghiệp và nhu cầu sinh hoạt đã tăng lên cùng với sự gia tăng dân số. Năm 1950, thế giới có khoảng 2,5 tỷ người. Ngày nay, con số đó đã vượt quá 8 tỷ người.

Không phải tất cả các lưu vực nước và quốc gia đều rơi vào tình trạng phá sản về nước, nhưng các lưu vực có mối liên kết với nhau thông qua thương mại, di cư, khí hậu và những yếu tố tự nhiên then chốt khác. Phá sản về nước ở một khu vực sẽ tạo thêm áp lực lên các khu vực khác, đồng thời có thể làm gia tăng căng thẳng trong nước và quốc tế.
Chúng ta có thể làm gì?
Cũng giống như phá sản tài chính chỉ có thể chấm dứt khi thay đổi cách chi tiêu, phá sản về nước đòi hỏi cách tiếp cận tương tự:
Ngăn chặn đà suy kiệt: Bước đầu tiên là thừa nhận “bảng cân đối” đã bị phá vỡ. Điều đó có nghĩa là đặt ra các giới hạn sử dụng nước phù hợp với lượng nước thực sự sẵn có, thay vì tiếp tục khoan giếng sâu hơn và đẩy gánh nặng cho tương lai.
Bảo vệ “vốn tự nhiên” - không chỉ riêng nước: Bảo vệ các vùng đất ngập nước, phục hồi sông ngòi, cải thiện sức khỏe đất, và quản lý việc bổ cập nước ngầm không phải là những việc “có thì tốt”. Chúng là điều thiết yếu để duy trì nguồn nước lành mạnh, cũng như để đảm bảo một khí hậu ổn định.

Tại các quốc đảo nhỏ như Maldives, mực nước biển dâng đang đe dọa nguồn cung nước khi nước mặn xâm nhập vào các tầng chứa nước ngầm, làm hư hỏng các giếng nước.
UNDP Maldives, 2021, CC BY
·      Sử dụng ít hơn, nhưng phải công bằng: Quản lý nhu cầu sử dụng nước đã trở thành điều không thể tránh khỏi ở nhiều nơi. Tuy nhiên, các kế hoạch ứng phó với phá sản về nước nếu cắt giảm nguồn cung của người nghèo trong khi bảo vệ những nhóm có quyền lực thì chắc chắn sẽ thất bại. Những cách tiếp cận nghiêm túc bao gồm các biện pháp bảo trợ xã hội, hỗ trợ nông dân chuyển sang các loại cây trồng và hệ thống canh tác ít tiêu tốn nước hơn, cùng với đầu tư vào hiệu quả sử dụng nước.
·      Đo lường những gì thực sự quan trọng: Nhiều quốc gia hiện vẫn quản lý tài nguyên nước dựa trên thông tin không đầy đủ. Công nghệ viễn thám vệ tinh có thể theo dõi nguồn nước và các xu hướng biến động, đồng thời cảnh báo sớm về sự suy giảm nước ngầm, sụt lún đất, mất đất ngập nước, sông băng thu hẹp và chất lượng nước xuống cấp.
·      Lập kế hoạch cho một tương lai ít nước hơn: Phần khó khăn nhất của phá sản là rào cản tâm lý &mdash nó buộc chúng ta phải từ bỏ những chuẩn mực cũ. Phá sản về nước đòi hỏi phải thiết kế lại các thành phố, hệ thống lương thực và nền kinh tế để sống trong những giới hạn mới, trước khi các giới hạn đó bị siết chặt hơn nữa.
Với nước, cũng như với tài chính, phá sản có thể là một bước ngoặt. Nhân loại có thể tiếp tục chi tiêu như thể thiên nhiên cung cấp tín dụng vô hạn, hoặc học cách sống trong khả năng của hệ thống thủy văn mà mình đang có.
Nguổn: Tổng hợp, dịch
|
|
| Về đầu trangIn trang |
|